Thứ Hai, 18 tháng 4, 2011

Nhân viên ngân hàng 'xúi' khách ra ngoài bán đôla

Vui vẻ và sẵn sàng tư vấn cho khách đem USD bán ở thị trường tự do đang là xu hướng của giao dịch viên tại nhiều nhà băng, sau khi Ngân hàng Nhà nước áp lãi suất huy động USD về mức trần 3% một năm.

Có vài nghìn USD gửi tiết kiệm tại một ngân hàng cỡ vừa trên phố Ngô Quyền (Hà Nội) muốn chuyển sang gửi tiền đồng, chị Vân nhà ở quận Đống Đa đến phòng giao dịch để hỏi thủ tục. Chỉ còn khoảng năm ngày nữa là đáo hạn sổ, chị được nhân viên giao dịch khuyên nên bán đôla cho nhà băng bằng hình thức chuyển khoản.

Tỷ giá tại đây lúc 11h trưa 18/4 chỉ là 20.900 đồng một USD, áp dụng với mệnh giá 50 và 100 USD. Với các mệnh giá là 5, 10 hay 20 USD, thì thấp hơn, nên chị này không đồng ý. Bày tỏ ý định muốn rút hết USD để đi đổi lấy VND trên thị trường tự do, chị được nhân viên mách một số điểm mua đôla là các tiệm vàng liên kết với ngân hàng, với giá có thể cao hơn.



Nhân viên giao dịch sẵn sàng tư vấn cho khách mua bán ngoại tệ ở thị trường bên ngoài. Ảnh minh họa: Hoàng Hà

Theo tìm hiểu của VnExpress.net, sau khi Ngân hàng Nhà nước áp lãi suất trần huy động USD là 3% một năm, nhiều người dân cũng dần hình thành thói quen giao dịch USD ngay tại ngân hàng. Dù không trực tiếp tư vấn khách đi bán ngoại tệ tại chợ "đen", song nhân viên ngân hàng đều tỏ ra vui vẻ khi khách có ý định này.

Nhân viên một ngân hàng trên phố Xã Đàn cho biết, trước kia, 10 khách đến rút USD để đổi ra VND thì cả 10 đều không bán cho
ngân hàng mà tìm đến Hà Trung, Hàng Bạc. Tuy nhiên, từ khi giao dịch trên thị trường tự do khó khăn, thì trong 10 khách đã có một nửa chấp nhập bán đôla cho nhà băng.

Nguyên nhân là hiện tại, tỷ giá đôla chợ "đen", so với
ngân hàng không quá chênh lệch. Chị này cho hay, từ hôm Ngân hàng Nhà nước quy lãi suất huy động USD về một mức 3%, tình trạng hai tỷ giá cũng đang có dấu hiệu dần được đẩy lùi.

Một nhân viên phòng giao dịch Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBank) ở ngã tư Ngô Quyền- Tràng Tiền cũng nói, hiện tại, giá đôla tự do cũng chỉ tương đương với ngân hàng. Thậm chí, giá có chỗ còn thấp hơn chứ không chênh lệch đến vài trăm đồng một USD như trước.

Lúc 11h trưa nay, giá thu mua USD tiền mặt tại đây là 20.915 đồng, mua chuyển khoản 20.920 đồng và bán ra 20.935 đồng một USD. Trong khi đó, trên thị trường tự do, giá USD nếu cao hơn, theo chị, cũng chỉ hơn khoảng 20-30 đồng mỗi USD, mà mua bán lại phải lén lút, không dễ dàng. Có khách hàng muốn rút USD để chuyển sang tiền đồng, thì chị này tươi cười bảo khách cứ ra chợ mà khảo giá sẽ thấy bán cho nhà băng lợi hơn.


Tỷ giá tại ngân hàng và chợ "đen" không còn nhiều chênh lệch sau khi lãi suất huy động đồng ngoại tệ này đồng loạt quy về 3% một năm. Ảnh minh họa: Tuệ Minh

Theo nhân viên này, việc mua bán bên ngoài bị siết chặt nên nếu khách đem ra ngoài bán, vừa vất vả mà cũng có nguy cơ không được giá như bán cho nhà băng. Dù vậy, việc nhân viên một số ngân hàng tư vấn cho khách hàng các điểm đổi USD với chênh lệch cao hơn vẫn khiến không ít người đặt nghi vấn về mối quan hệ của nhà băng với điểm kinh doanh ngoại tệ tự do.

Chị Vân (người có USD gửi
ngân hàng nói trên) nói với VnExpress.net, trong khi Nhà nước đang siết chặt thị trường đôla tự do, việc nhà băng này liên kết với tiệm vàng bên ngoài để thu đổi đôla của khách liệu có vi phạm pháp luật?

Ông Lê Đức Thọ, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank) cho rằng, việc nhân viên ngân hàng sẵn sàng tư vấn cho khách hàng điểm thu đổi ngoại tệ cũng không hẳn là sai quy định. Vì thực tế, nếu không đáp ứng được mức giá mong muốn của khách hàng, nhà băng vẫn có quyền giới thiệu khách cho những điểm kinh doanh bên ngoài. Tuy nhiên, theo ông, những điểm thu đổi này phải có giấy phép hoạt động và niêm yết công khai tỷ giá ngoại tệ.

Ông Thọ nhận định, sự hòa nhịp trong tỷ giá chợ "đen" và
ngân hàng sau khi lãi suất USD được áp về 3% một năm là một trong những dấu hiệu đáng mừng cho việc xóa bỏ tình trạng hai tỷ giá trên thị trường ngoại hối hiện nay.

"Việc người dân có xu hướng chuyển từ tiết kiệm USD sang VND cũng là một trong những xu hướng được dự báo sẽ xảy ra phổ biến trong thời gian tới", ông nói.

Tuy nhiên, theo ông Thọ, để có thể dứt khoát xóa được hai tỷ giá, tránh tình trạng đã xóa được nhưng lại không lâu bền, theo vị này, cần phải đi theo định hướng đã định sẵn là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô tiến tới ổn định tỷ giá và lãi suất. Ngoài ra, các cơ quan quản lý cần quyết liệt kiểm soát thị trường tự do.

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2011

Lãi suất cao có chống được lạm phát cao?

Liên tiếp tăng, NHNN đang sử dụng công cụ lãi suất để góp phần chống lạm phát. Nhưng vẫn có ý kiến trái chiều về hiệu quả của nó với thực tế của nền kinh tế Việt Nam.

Tính đến lần điều chỉnh ngày 31/3 vừa qua,
NHNN  đã 3 lần liên tiếp tăng các lãi suất điều hành kể từ đầu năm, với mức độ điều chỉnh mỗi loại khác nhau. Thông điệp chính sách tiền tệ thắt chặt góp phần kiềm chế lạm phát được phát đi rõ ràng, công cụ cụ thể là lãi suất.

Với hoạt động của doanh nghiệp, chi phí vay vốn đang bị đẩy lên cao, trong khi kỳ vọng hạ lãi suất vẫn chưa có tín hiệu và lạm phát vẫn đang diễn biến phức tạp.

Hồi đầu năm, một lãnh đạo của
NHNN từng nói rằng, khi lạm phát cao xuất hiện, cùng với chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ thắt chặt là một giải pháp nhằm đánh vào tổng cầu. Lựa chọn thời gian qua và hiện nay là tăng lãi suất, thay vì dự trữ bắt buộc vì tính ảnh hưởng rộng lớn của nó.

Cũng theo thông tin từ đại diện nhà điều hành, khi thực hiện giải pháp trên, có một khó khăn mang tính luận điểm xuất hiện trên thị trường, được cho là một ý thức hệ mới cần được phân tích, đánh giá một cách kỹ lưỡng. Đó là “làn gió ngược” khi cho rằng tăng lãi suất lên cao chưa hẳn đã kiềm chế được lạm phát, gắn với đặc thù của nền kinh tế Việt Nam, thậm chí có thể còn truyền dẫn thêm áp lực vào lạm phát…

Trước phản biện này, được biết Ngân hàng Nhà nước đã tham vấn ý kiến của chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB). Kết quả là không thấy có đúc kết nào như vậy ở các quốc gia trên thế giới.

Xoay quanh quan điểm phản biện đó, VnEconomy đã có cuộc trao đổi với TS. Quách Mạnh Hào, công tác tại Công ty Chứng khoán Thăng Long (TLS) và Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Ông Hào cũng là người có những nghiên cứu cụ thể về vấn đề này công bố trong thời gian gần đây. Và một điểm thú vị là trong nghiên cứu của mình, chính ông Hào đã trích dẫn một nghiên cứu cùng quan điểm với ông được đăng ngay trên Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế của Ngân hàng Thế giới.

Thưa ông, ở vấn đề trên, việc liên tiếp tăng lãi suất của Ngân hàng Nhà nước vừa qua nhằm mục đích kiềm chế lạm phát là có hợp lý không? Và tại sao?


Quả thực rất khó để đánh giá một chính sách kinh tế là hợp lý hay không ngay khi nó được thực hiện bởi trong thực tế điều hành chính sách chúng ta chỉ có thể chọn một trong số nhiều lựa chọn mà kết quả của nó thì chúng ta chỉ có thể biết sau một thời gian và không có cơ hội so sánh với những lựa chọn khác.

Quan điểm của tôi về lựa chọn chính sách lãi suất trong bối cảnh nguy cơ lạm phát cao đã được trình bày trong những nghiên cứu về chủ đề này vào khoảng tháng 11/2010. Trong các bài nghiên cứu, tôi đã đặt ra câu hỏi và trả lời cho 3 vấn đề quan trọng trong mối quan hệ nêu trên.

Trong bài nghiên cứu thứ nhất, tôi đưa ra câu hỏi liệu có đúng chính sách lãi suất cao chống được lạm phát cao - chính là câu hỏi bạn đang hỏi tôi? Câu trả lời của tôi là đúng theo sách nhưng chưa phù hợp thực tiễn Việt Nam.

Điều đó là vì khi mặt bằng lãi suất cao, tăng thêm lãi suất sẽ làm tăng mức độ rủi ro trong nền kinh tế, tăng chi phí đầu vào cho doanh nghiệp và dẫn tới đình đốn sản xuất, thất nghiệp. Nếu bạn để ý thì công thức cổ điển “lãi suất cao chống lạm phát cao” được hình thành từ thực nghiệm tại các nước phương Tây, nhưng mặt bằng lãi suất và lạm phát tại các quốc gia đó thường ở mức rất thấp và do vậy mặt bằng lãi suất tăng thêm một chút không dẫn tới việc các doanh nghiệp phải rời bỏ sản xuất.

Nhưng tại Việt Nam, mặt bằng lãi suất đã ở mức quá cao, nếu áp dụng công thức sách giáo khoa nêu trên thì nguy cơ lạm phát do cầu kéo trở thành lạm phát chi phí đẩy là hiện hữu. Tôi đã gọi điều này là “vòng luẩn quẩn” trong nghiên cứu của mình.

Bên cạnh đó, việc cho vay cá nhân thường chiếm tỷ trọng cao so với cho vay doanh nghiệp tại các quốc gia phương Tây trong khi tại Việt Nam thì ngược lại cũng là một yếu tố chi phối sự hiệu quả của của công thức nêu trên.

Trên thực tế, trong giới nghiên cứu thế giới cũng đã có những bài nghiên cứu về chủ đề tương tự và kết luận thường thấy là trong điều kiện mặt bằng lãi suất cao thì công thức cổ điển là không hiệu quả.

Nhìn lại thực tế Việt Nam thời gian qua có thể thấy rằng Chính phủ đã theo đuổi chính sách ổn định vĩ mô để chống lạm phát và mặt bằng lãi suất thực tế đã tăng lên, lạm phát cũng chưa có dấu hiệu giảm. Theo tôi, còn quá sớm để kết luận về tính hiệu quả của lựa chọn chính sách, nhưng dù thế nào thì tôi cũng nhấn mạnh rằng sẽ không có lựa chọn hoàn hảo.

Vậy theo ông, đâu là một chính sách lãi suất hợp lý đối với Việt Nam ở thời điểm này? Xa hơn, làm sao để hạ được lãi suất?

Câu hỏi của bạn phù hợp với các câu hỏi khác trong các bài nghiên cứu nêu trên của tôi, bao gồm mức lãi suất bao nhiêu là phù hợp và làm thế nào để giảm lãi suất.

Trong các nghiên cứu của mình, tôi có lập luận rằng lý do dẫn tới nguy cơ lạm phát và vòng luẩn quẩn chủ yếu là do năng lực của nền kinh tế thể hiện qua chỉ số ICOR và tỷ suất đầu tư trên tăng trưởng quá cao. Nói cụ thể hơn thì đã có những khu vực không hiệu quả và hiệu quả nhưng lại được đánh đồng như nhau. Do vậy, một cách lý tưởng thì dòng tín dụng phải được khơi thông tới các khu vực sử dụng vốn hiệu quả và hạn chế các khu vực làm ăn không hiệu quả. Còn nếu chúng ta cân nhắc nền kinh tế như là một tổng thể chung thì chính sách lãi suất không nên quá cao hoặc quá thấp.

Tôi cũng đã đưa ra một tính toán cho thấy mặt bằng lãi suất cho vay phù hợp nền kinh tế Việt Nam khi ổn định vĩ mô đạt được nên nằm trong khoảng 11 - 14% và hệ thống ngân hàng hoàn toàn có thể đáp ứng được yêu cầu này.

Về việc làm thế nào để giảm lãi suất thì một trong những khuyến nghị trong nghiên cứu của tôi là việc “xóa bỏ trạng thái tiền rẻ” của các ngân hàng thương mại cổ phần lớn có được do chênh lệch giữa tỷ suất trái phiếu Chính phủ cao hơn lãi suất tái chiết khấu. Những điều chỉnh trong tháng 3/2011 đã đưa mức lãi suất tái chiết khấu cao hơn tỷ suất trái phiếu chính phủ và tôi nghĩ rằng điều này là tốt mặc dù trước đó thì các biện pháp thắt chặt tiền tệ đã làm thay đổi nhiều các biến số kinh tế khác so với thời điểm tôi nghiên cứu.

Ông có thể nói rõ hơn ở điểm chính sách tiền tệ góp phần kiềm chế lạm phát tại Việt Nam?

Sự lựa chọn chính sách nào cũng có những mặt trái và thực tế thì chúng ta không nên tranh luận về việc chính sách tiền tệ như thế nào là hợp lý nữa. Chính phủ thực tế đã theo đuổi chính sách tiền tệ thắt chặt thì tôi nghĩ cần phải thực hiện điều này một cách quyết liệt nhưng có định hướng, tránh tạo cảm giác không chắc chắn cho người tiêu dùng.

Nhìn vào mối quan hệ “dùng công cụ là chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát”, nếu coi lạm phát là “gà” thì chúng ta cần phải khoanh vùng xem “gà” sẽ chạy đến đâu chứ không thể để gà chạy tự do và dùng công cụ tiền tệ để đuổi theo nó.

Lấy một ví dụ khá đơn giản là giá xăng dầu. Khi chúng ta tăng giá xăng dầu thì chúng ta giải thích là vì giá thấp hơn so với các nước láng giềng. Nhưng khi tăng xong rồi chúng ta cũng vẫn nói tăng như thế là vẫn còn thấp hơn thì người dân sẽ nghĩ rằng còn tăng tiếp. Tại sao chúng ta không tăng một lần cho bằng hoặc đơn giản là nói rằng giá vẫn thấp hơn nhưng cam kết không có lần tăng giá nào nữa cho đến cuối năm.

Nếu chúng ta không định hướng người tiêu dùng về việc con gà lạm phát sẽ chạy đến đâu, thì rõ ràng điều này không khác gì để nó chạy tự do và chính sách tiền tệ sẽ liên tục phải đuổi theo nó.

Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2011

Thả nổi lãi suất, tại sao không?

Thời gian qua, để cạnh tranh huy động vốn, nhiều ngân hàng cố tình lách quy định trần lãi suất huy động vốn tối đa 14%/năm của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), đẩy lãi suất huy động thực tế lên tới 15 - 17%/năm. Thực tế này khiến nhiều chuyên gia kinh tế băn khoăn, phải chăng mức trần lãi suất 14%/năm đã không còn phù hợp và NHNN nên bỏ mức trần lãi suất huy động, trả lãi suất về cho thị trường.

Thực ra, một giai đoạn dài trước đây, NHNN đã áp dụng cơ chế trần lãi suất với việc quy định khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi và lãi suất tối đa về tiền vay. Tuy nhiên, tới tháng 6/2002, lãi suất được tự do hóa hoàn toàn với việc các ngân hàng được phép xác định lãi suất cho vay trên cơ sở tự thẩm định và thương lượng với khách hàng.

Ông Lê Đức Thúy - Thống đốc NHNN khi đó cho rằng, ưu điểm lớn nhất của tự do hóa lãi suất là tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) mở rộng mạng lưới để huy động, cho vay vốn với mức lãi suất phù hợp; đáp ứng đầy đủ và nhanh hơn vốn cho người cần vay... Một tác động khác của cơ chế này là: tạo thuận lợi cho việc cải cách hệ thống ngân hàng theo định hướng thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh và khả năng hội nhập với thị trường tài chính tiền tệ quốc tế.

Tuy nhiên, ngày 16/5/2008, trước những bất ổn của thị trường tiền tệ, để ngăn chặn cuộc đua lãi suất, NHNN đã ban hành Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN yêu cầu các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh bằng VND không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản. Đến đầu năm 2010, NHNN lại gỡ bỏ trần lãi suất cho vay khi cho phép các TCTD được cho vay theo cơ chế lãi suất thỏa thuận, song không đả động gì đến trần lãi suất huy động. Và đến thời điểm hiện tại, NHNN lại quay trở về việc quy định trần lãi suất huy động không chỉ VND mà còn cả với USD.

Nhiều chuyên gia tài chính - ngân hàng trong và ngoài nước nhận xét, việc khống chế trần lãi suất và các biện pháp điều chỉnh trần lãi suất không theo cơ chế thị trường khiến NHNN đến thời điểm hiện tại vẫn rất lúng túng trong việc điều chỉnh lãi suất nên như thế nào?

Theo TS. Cấn Văn Lực - Cố vấn cao cấp Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, trong thời điểm nước sôi lửa bỏng, thị trường có quá nhiều biến động mà NHNN thì bắt buộc phải sử dụng biện pháp hành chính. Tuy nhiên, không nên lặp lại quá nhiều và tần suất quá gần nhau. Bên cạnh đó, sự không nhất quán trong điều hành chính sách tiền tệ sẽ đưa đến 3 điểm: thứ nhất, tạo nên khó khăn trong dự báo, dự trù kinh phí kinh doanh của DN; thứ hai, niềm tin đối với chính sách tiền tệ sẽ mất dần; thứ ba, sự phối kết hợp giữa các ban ngành với nhau sẽ khó khăn hơn.

TS. Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia cũng cho rằng, lạm dụng các biện pháp hành chính sẽ làm thị trường trở nên méo mó, gây trở ngại cho công việc giám sát cũng như tạo ra nhiều rủi ro đạo đức trong khu vực ngân hàng.

"Thực tế cho thấy, tự do hoá lãi suất đã được thực thi một thời gian dài. Khi đó, các NHTM có cơ hội cạnh tranh nhau để giảm lãi suất cho vay và kéo lãi suất huy động giảm xuống. Tự do hoá lãi suất là vấn đề cốt lõi của toàn bộ chính sách tiền tệ. Nó không chỉ ảnh hưởng đến nền tảng tài chính của các NHTM mà ảnh hưởng đến ngay chính sách tiền tệ của NHNN", ông Nghĩa nói.

Đồng quan điểm trên, TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính - ngân hàng nhận xét, các biện pháp hành chính, phi thị trường khó đem lại kết quả như mong đợi, bởi các biện pháp lách luật ngày càng tinh vi hơn. Đồng thời, vừa qua kết quả chưa như mong đợi có thể do chính sách tiền tệ chưa được phối hợp với các chính sách vĩ mô khác như chính sách tài khoá, vấn đề nợ công, chi phí công…

"NHNN nên có sự nhất quán trong việc điều hành và thả nổi lãi suất theo cơ chế thị trường. Đặc biệt, nếu quý II/2011, dòng vốn không được lưu thông, tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế thì nên cân nhắc thả nổi lãi suất trong quý III/2011", ông Hiếu nhấn mạnh.
(Đầu tư Chứng khoán điện tử)

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2011

Ngân hàng Trung ương - Cuộc chơi trở nên phức tạp hơn

Khủng hoảng tài chính phương Tây làm lung lay niềm tin của công chúng về khả năng lãnh đạo nhưng cũng tạo ra nhiệm vụ và quyền lực lớn hơn cho NHTƯ.

Kể từ đợt khủng hoảng năm 2007, các ngân hàng Trung ương (NHTƯ) đã mở rộng quyền hạn của mình trong việc tự khởi xướng các quyết định hay trong các quyết định của chính phủ, vượt ra ngoài các chính sách tiền tệ thông thường.


Các ngân hàng này không chỉ mở rộng những giới hạn thông thường của chính sách tiền tệ bằng cách mua trái phiếu chính phủ và các tài sản khác (xem bảng). Họ còn chịu trách nhiệm cao hơn trong việc theo dõi các ngân hàng và tính bình ổn của hệ thống tài chính. Các nhiệm vụ mới này yêu cầu các chính sách thận trọng vĩ mô mới.



Tốc độ gia tăng tổng tài sản không quy chuẩn (trái phiếu Chính phủ hoặc tài sản khác) của Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED), NHTƯ châu Âu (ECB) và NHTƯ (Bank of England). Năm 2008 = 100
Số trong ô vuông là giá trị tính theo nghìn tỷ USD.

Về bản chất, điều này có nghĩa là các NHTƯ phải để mắt đến bất kỳ nguy cơ có thể xảy ra đối với toàn bộ nền kinh tế. Và những nhiệm vụ cũ về chính sách tiền tệ dần trở nên không mấy dễ dàng để thực hiện. Công việc của NHTƯđang trở thành một cuộc chơi đầy phức tạp.

Những nhiệm vụ mới cũng đem đến những rủi ro mới. Trước đợt khủng hoảng, đã có sự đồng thuận về quyền lực: các NHTƯ nên được điều hành bởi các nhà kỹ trị, không chịu sự can thiệp của chính phủ, theo đuổi một mục tiêu bình ổn giá cả với một công cụ là lãi suất ngắn hạn.


Nhiều nơi đã từ bỏ chế độ giám sát của ngân hàng cho các nhà quản lý khác. Mối liên hệ giữa lãi suất và lạm phát có thể không chính xác, nhưng ít nhất các NHTƯ có nhiều lý thuyết và bằng chứng để đưa ra các chỉ đạo.


Ngược lại, những ảnh hưởng của các chính sách tiền tệ không theo thông lệ, như việc mua trái phiếu, thì hầu như không được biết đến. Phe đồng thuận lập luận rằng với lãi suất gần như zero, nó là cách đúng đắn để giữ dòng tín dụng và ngăn chặn giảm phát. Phía đối lập lại cho rằng điều đó làm hoang phí ngân sách và nguy cơ lại tạo ra khuynh hướng đầu cơ và có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính.


Ổn định tài chính, về quan điểm chinh trị, là một nhiệm vụ không thể chắc chắn so với bình ổn giá cả, theo David Archer của ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS), một bộ phận thuộc các NHTƯ.


Trong suốt các đợt tăng giá, các biện pháp thận trọng về vĩ mô như hạn chế cho vay sẽ chỉ khuấy động các cơn giận từ công chúng. Và nếu chúng có thể ngăn chặn khủng hoảng, công chúng cũng sẽ không bao giờ biết đến.


Nhưng nếu khủng hoảng xảy ra, dân chúng với thước ngắm chuẩn xác của mình sẽ đổ tội cho NHTƯ đã không đưa ra hành động sớm hơn. “Mối quan hệ giữa NHTƯ và chính phủ dường như trở nên khó khăn hơn và mang tính chính trị hơn,” Archer nói.

Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu “đói” vốn

Nhu cầu vay vốn và lãi suất ngân hàng đã trở thành chủ đề “nóng” nhất tại Hội nghị giao ban liên ngành xuất khẩu 3 tháng đầu năm 2011 do Bộ Công Thương chủ trì tổ chức ngày 5/4 với 2 điểm cầu Hà Nội, Tp.HCM.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Thành Biên cho biết, kim ngạch xuất khẩu 3 tháng đầu năm ước đạt 19,25 tỷ USD, tăng 33,7% so với cùng kỳ năm 2010. Trong đó nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng cao nhất (63,8%) với kim ngạch 12,27 tỷ USD.

Nguyên nhân chính là do giá nhiều loại hàng hóa nhiên liệu và nông sản tăng mạnh so với cùng kỳ. Chẳng hạn như giá nhân điều tăng 36,8%, giá cà phê tăng 46,9%, giá hạt tiêu tăng 59,5%, giá cao su tăng 70%, than đá tăng 56,6%, dầu thô tăng 31,9%.

Theo tính toán sơ bộ, giá và lượng hàng hóa tăng đã góp phần tăng thêm 4,85 tỷ USD vào tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong 3 tháng qua.

Bên cạnh những yếu tố thuận lợi về giá thì từ quý 2/2011, các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với khó khăn do lãi suất cao trong khi nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp là rất lớn, bởi giá nguyên liệu đầu vào của nhiều ngành hàng cũng đang không ngừng gia tăng.

Theo ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó chủ tịch Hiệp hội Thủy sản, tính riêng 2 tháng đầu năm, lượng xuất khẩu đã tăng 8,3%, nhưng giá trị tăng tới 28,2%, như vậy tăng về giá nhanh gấp 3 lần tăng về lượng.

Yếu tố chính là do giá thế giới có xu hướng tăng và đặc biệt là hàng hóa xuất khẩu đã có sự chuyển biến tốt về chất lượng. Như mặt hàng tôm đã tăng tới 41% giá trị so với cùng kỳ năm ngoái, cá tra tăng 14%, cá ngừ tăng 19%. Các thị trường nhập khẩu thủy sản chính của Việt Nam cũng đều tăng lượng nhập khẩu.

Đại diện cho các doanh nghiệp xuất khẩu điều Việt Nam, nhóm hàng có lượng xuất khẩu giảm nhưng do giá tăng trên 36,8% đã đóng góp gần 28% cho kim ngạch xuất khẩu.

Ông Nguyễn Thái Học, Hiệp hội Điều Việt Nam cho biết, trong năm 2011, ngành điều có kế hoạch xuất khẩu 190 triệu tấn nhân điều mang lại kim ngạch 1,5 tỷ USD. Năm nay cũng phải nhập xấp xỉ 50% điều nguyên liệu để phục vụ chế biến xuất khẩu.

Tuy nhiên, khó khăn nổi lên trong quý 2 là vốn để thu mua nguyên liệu. Tổng nhu cầu vốn của ngành khoảng 25 ngàn tỷ đồng, trong đó, các doanh nghiệp có thể tự cân đối được khoảng 5 – 6 nghìn tỷ đồng (10 – 15% vốn so với nhu cầu), còn lại phải vay ngân hàng.

Trong khi giai đoạn 3 tháng 4, 5 và 6 là thời kỳ phải tích cực thu mua nguyên liệu. Nhưng hiện nay tình hình tiếp cận vay vốn rất khó, khiến doanh nghiệp có thể phải dừng sản xuất. Hoặc nếu có vay được vốn thì doanh nghiệp kinh doanh cũng có nguy cơ bị thua lỗ do lãi suất cao, giá nguyên liệu tăng 1,8 lần.

Để sản xuất được 1 tấn nhân điều xuất khẩu doanh nghiệp phải mất khoảng 8.100 USD, trong khi giá giao dịch trên thị trường chung chỉ là 7.700 USD/tấn, lỗ 400 USD/tấn.

Theo ông Đỗ Hào Nam, Chủ tịch Hiệp hội Tiêu, Phó chủ tịch Hiệp hội Cà phê, tuy xuất khẩu cà phê 3 tháng đầu năm đã đạt 1 tỷ USD, nhưng thực chất lợi nhuận từ cà phê chủ yếu nằm trong túi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, bởi họ luôn mua vào lúc giá rẻ (chiếm tới 60 – 70% sản lượng), khi giá lên thì bắt đầu bán ra. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp Việt Nam thiếu vốn nên biết giá sẽ tăng mà không làm gì được.

Ông Trần Quốc Mạnh, Phó chủ tịch Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ Tp.HCM cũng chia sẻ, doanh nghiệp phải vay vốn với lãi suất trên dưới 20%, thậm chí cao hơn. Cần thiết phải có gói hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp để giảm lãi suất doanh nghiệp phải chịu xuống còn khoảng 10 hoặc trên 10% thì doanh nghiệp mới có thể chịu đựng được, nếu giữ tình trạng như hiện nay thì đến cuối năm 2011, đầu 2012 sẽ thấy hậu quả xấu.

Về phía các ngân hàng, bà Trần Hồng Hạnh, Phó vụ trưởng Vụ Tín dụng của Ngân hàng Nhà nước cũng như đại diện của các Ngân hàng Phát triển, Ngân hàng Công thương đều khẳng định một trong những điều kiện để ngân hàng cho vay được là doanh nghiệp phải đảm bảo khả năng tài chính trả nợ.

Hạn mức tín dụng tối thiểu là 15% chỉ được các ngân hàng áp dụng với những khách hàng chiến lược, còn các doanh nghiệp khác phải chịu hạn mức cao hơn theo đúng quy định.


Nộp tiền lẻ vào ngân hàng cũng phải mất phí ?

Hai ngày nay, đường dây nóng của VnExpress.net nhận được một số phản ánh của độc giả về việc bị thu phí kiểm đếm khi đến nộp tiền lẻ tại ngân hàng.

Độc giả Thái Hà ở Hà Nội cho biết, đem tiền đi gửi tại
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), nếu là tiền mệnh giá 5.000 đồng trở xuống thì phải đóng một khoản phí gọi là phí nộp tiền mệnh giá nhỏ là 11%. Theo độc giả này, đây là điều thiệt thòi với những người kinh doanh nhỏ khi bán hàng chỉ thu về những đồng bạc lẻ, mà đem gửi ngân hàng lại bị thu phí.

Chị Lan Anh ở Cầu Giấy (Hà Nội) kể với
VnExpress, chiều 6/4, mang tiền đến gửi vào tài khoản tại Vietcombank chi nhánh Chương Dương trên đường Thái Thịnh (Hà Nội), chị cũng được nhân viên yêu cầu đếm số tờ để thu phí. Bình thường đem tiền đi gửi tại đây, khách chỉ phải phân loại riêng các mệnh giá tiền, sau đó nhân viên cho vào máy đếm, chứ chưa khi nào phải đếm bằng tay. Chị thắc mắc thì được nhân viên giải thích, ngân hàng bắt đầu thu phí kiểm đếm tiền lẻ từ 4/4.



Việc thu phí kiểm đếm tiền lẻ sẽ giúp tiết kiệm thời gian kiểm đếm của nhân viên ngân hàng.
Ảnh minh họa: Tuệ Minh


Khảo sát của VnExpress cho thấy, việc một số chi nhánh Vietcombank thu phí kiểm tiền lẻ là có thật. Mức phí phổ biến là 50 đồng một tờ, áp dụng với các mệnh giá từ 500 đồng đến 5.000 đồng, số lượng từ 100 tờ trở lên.

Tuy nhiên, việc thu phí của nhà băng này không thống nhất giữa các chi nhánh. Chiều 6/4, tại một điểm giao dịch của Vietcombank trên phố Khâm Thiên (Hà Nội), nhân viên khẳng định gửi tiền lẻ không mất phí, ngay cả khi số tiền lên tới cả vài chục triệu đồng. Khách mang tiền đến gửi chỉ việc phân loại các mệnh giá tiền khác nhau, nhân viên đưa vào máy đếm, ký xác nhận là xong. Tại điểm giao dịch này, cũng không thấy xuất hiện thông báo áp dụng thu phí kiểm đếm tiền lẻ.


Thực tế, việc thu phí đối với khách hàng của Vietcombank không sai. Theo Quyết định 47/2006-QĐ-NHNN của
Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 25/9/2006, "tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm có thể quy định mức phí đối với việc nhận hoặc chi trả tiền gửi tiết kiệm". Tuy nhiên, từ trước đến nay, để hỗ trợ khách hàng cá nhân, hầu hết các ngân hàng đều không thu phí, mà chỉ khách hàng doanh nghiệp.

Hiện tại đa số nhà băng tại Hà Nội vẫn miễn phí kiểm đếm tiền với khách hàng cá nhân. Một nhân viên Vietinbank trên phố Xã Đàn (Hà Nội) khẳng định, cá nhân đến giao dịch, hoàn toàn không bị thu phí kiểm đếm tiền lẻ. Nhân viên một nhà băng lớn trên phố Láng Hạ cũng thông tin, tính đến hiện tại, đơn vị này vẫn chưa áp phí kiểm đếm với khách hàng cá nhân.


Với kiểm đếm tiền lẻ, nhân viên một ngân hàng thương mại cổ phần trên phố Láng Hạ (Hà Nội) thông tin, thường thì khách hàng cá nhân được miễn phí. Lý do là số lượng tiền giao dịch của đối tượng này thường không quá lớn. Ngoài ra, đây cũng là một trong những ưu đãi của nhà băng dành cho khách hàng cá nhân, mục đích là để thu hút người dân gửi tiền vào ngân hàng.




Tuy nhiên, mức phí cần được điều chỉnh theo từng mệnh giá. Ảnh: Tuệ Minh

Trao đổi với VnExpress.net, ông Đào Minh Tuấn, Phó tổng Giám đốc Vietcombank thừa nhận, nhà băng này đang thử triển khai việc thu phí kiểm đếm tiền lẻ tại một số phòng giao dịch ở Hà Nội.

Nguyên nhân là 3 tháng đầu năm, lượng tiền lẻ gửi vào
ngân hàng  tăng, trong đó rất nhiều tờ cũ, không thể đưa vào máy kiểm đếm nên phải bố trí nhân lực để kiểm đếm thủ công. Vì vậy, ngân hàng phải thu phí kiểm đếm. Tuy nhiên, theo ông Tuấn, chương trình này chưa áp dụng đại trà trên toàn hệ thống, mà chỉ ở khu vực Hà Nội, và cũng chỉ có vài phòng giao dịch triển khai từ tháng 4.

"Do quy định mới áp dụng, nên có thể chưa sát thực tế. Chúng tôi sẽ cân nhắc kỹ hơn phản ánh của khách hàng", ông Tuấn nói.


Trước phản ánh của khách hàng rằng phí cao, không có định mức cụ thể đối với từng mệnh giá tiền, không thống nhất giữa các chi nhánh, ông Tuấn cho hay, sẽ xem xét điều chỉnh cho thỏa đáng. Theo ông, Vietcombank sẽ tiến hành khảo sát đến 15/4, nếu thấy lượng tiền lẻ như 500 đồng hay 1.000 đồng về ít ngân hàng đi thì có thể xem xét hạ mức phí hoặc bãi bỏ quy định.


Ông Tuấn cũng khẳng định, việc áp phí kiểm đếm tiền lẻ không hề ảnh hưởng và gây rào cản đến việc người dân gửi tiền tiết kiệm. Vì thực tế, số lượng tiền lẻ trong tổng mức gửi tiết kiệm của người gửi thường chỉ chiếm một phần nhỏ.


Dù không áp phí kiểm đếm tiền lẻ, nhưng đại diện một số ngân hàng cũng cho rằng tiền lẻ hầu như không thể kiểm đếm bằng máy. Nếu đếm thủ công cũng khá mất thời gian. Nhưng vì ưu đãi khách hàng, từ trước tới nay, phần lớn các nhà băng đều miễn phí kiểm đếm loại tiền này.


Một số nhà băng cho biết nếu lượng tiền lẻ quá nhiều và cũ, cũng sẽ cân nhắc thu phí theo lộ trình.


Bà Nguyễn Thị Kim Xuyến, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Đông Á chia sẻ, nhà băng này chỉ thu phí trong trường hợp khách hàng mang tiền đến gửi trong thời gian cực ngắn. Chẳng hạn, có người sáng mang tiền đến gửi, chiều rút về.


Những trường hợp này DongABank sẽ thu một khoản tiền phí kiểm đếm. Còn lại, các trường hợp khác, nhà băng không thu phí dù đó là tiền mệnh giá nhỏ hay lớn.


"Tiền nào cũng là tiền nên không có chuyện mệnh giá nhỏ thì bị thu phí còn mệnh giá lớn thì không", bà Xuyến nói.


Trong khi đó, ông Phạm Duy Hưng, Tổng giám đốc
Ngân hàng Việt Á tiết lộ, thông thường với khách quen thì nhà băng hoàn toàn không thu phí đối với việc kiểm đếm tiền mệnh giá nhỏ. Còn các trường hợp khách lạ, nếu với số lượng tiền mệnh giá nhỏ không nhiều thì cũng chẳng thu. Nhưng trường hợp quá nhiều, lên đến tiền tỷ thì sẽ thu một khoản phí nhỏ "cho công kiểm đếm của nhân viên".

Nguồn: Vnexpress/http://vnexim.com.vn

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2011

Việt Nam 2011: Ngân hàng và nỗi lo sợ thanh khoản

NHNN siết chặt nguồn tiền thông qua công cụ lãi suất, các ngân hàng "đại gia" tăng lãi suất cho vay trên thị trường liên ngân hàng và ngân hàng nhỏ buộc phải đua lãi suất... một tình huống điển hình về những khó khăn trong thanh khoản của các ngân hàng đang hiện hữu.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực thi và giám sát gắt gao việc thắt chặt tiền tệ. Những phản ứng đầu tiên cho thấy, khi bắt đầu gặp khó về nguồn vốn, các ngân hàng buộc phải tăng lãi suất để huy động.

Trong khi đó, nguy cơ về tăng dự trữ bắt buộc cũng có thể sẽ xảy ra khiến nỗi lo thanh khoản của các
ngân hàng ngày càng lớn.

Lãi suất tăng: Những rủi ro có thực

Hai lần liên tiếp trong hơn một tháng gần đây, Ngân hàng Nhà nước đã tăng các lãi suất chủ chốt trên thị trường liên
ngân hàng. Nguồn cung tiền từ ngân hàng trung ương bị thắt lại mạnh mẽ khiến cho những ngân hàng nhỏ - vốn trông đợi nhiều tư nguồn này - rơi vào tình thế khó khăn và đối mặt với nhiều rủi ro về thanh khoản.

Không còn cách nào khác, các
ngân hàng phải áp dụng biện pháp cũ nhưng dễ và hiệu quả: tăng lãi suất huy động để hút vốn nhằm bù đắp cho sự thiếu hụt.

Mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã luật hóa bằng thông tư cấm huy động lãi suất quá 14%, và tất cả các ngân hàng đã thực hiện đúng khi đều niêm yết ở mức tối đa cho phép. Tuy nhiên, một thị trường đầy biến động đang ẩn sau những bảng niêm yết lãi suất - tưởng là bình lặng đó.

Đầu tiên là việc các
ngân hàng bằng mọi cách liên tiếp tăng trần lãi suất huy động. Người dân có tiền đi gửi tại các ngân hàng hiện nay - nếu có số dư ít thì nhận được những khuyến mãi khá lớn, nếu có số dư lớn trên 500 triệu thì hoàn toàn có thể thỏa thuận đẩy mức lãi suất vượt rào lên trên 17%. Ngân hàng Nhà nước đã cảnh báo, kiểm tra và xử lý một vài trường hợp, song thực tế, vẫn có nhiều cách để lách.

Một trong những diễn biến đáng chú ý là các
ngân hàng đã tăng lãi suất huy động ngắn hạn lên cao, tới mức 12%, thậm chí, xấp xỉ 14% cho các kỳ hạn dưới 3 tháng.

Tuy nhiên, theo một chuyên gia ngân hàng, hiện nay, nguồn vốn đổ vào các nhà băng vẫn không có nhiều dấu hiệu khả quan. Người gửi tiền vẫn có xu hướng gửi ngắn hạn và chờ đợi những cơ hội rút tiền ra đầu tư hay gửi ở nhà băng khác có lãi suất cao hơn. Như một lẽ thường tình, vì cần vốn, các ngân hàng nhỏ rất dễ "nổ phát súng" mở đầu cuộc đua tăng lãi suất.

Một chuyên gia từ Hiệp hội Ngân hàng thừa nhận, việc Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng một loạt mức lãi suất gần đây đã có tác động gián tiếp đến lãi suất chào vay của các ngân hàng thương mại lớn trên thị trường liên
ngân hàng. Các ngân hàng lớn có nguồn tiền mặt đang tăng lãi suất trên thị trường này để kiếm lãi, trong khi nhu cầu vốn đáp ứng thanh khoản trước mắt của các ngân hàng nhỏ rất lớn do vay lãi suất liên ngân hàng qua đêm có lúc lên đến 16-17%/năm, thậm chí 17-20%/năm.

Do vậy, huy động lãi suất không kỳ hạn của dân cư 9-12%/năm đối với các
ngân hàng thương mại vẫn lợi hơn là vay liên ngân hàng lãi suất cao. Đó có thể là lý do đơn giản nhưng cũng là bản chất của việc lãi suất tăng hiện nay.

Trong khi đó, các số liệu ngày 28/3 cho thấy, lãi suất liên
ngân hàng - nơi các ngân hàng vay mượn vốn lẫn nhau - tăng mạnh. Kỳ hạn 1 tuần đã vọt lên 21-22%/năm, tăng 2-3%/năm so với cuối tuần trước. Kỳ hạn 1 tháng lãi suất có lúc lên đến 23%/năm. Điều này cho thấy, thị trường liên ngân hàng vẫn tiếp tục căng thẳng, các ngân hàng tiếp tục khó khăn về vốn và đang chấp nhận những khoản vay với lãi suất cắt cổ để đảm bảo an toàn cho chính mình.

Và như một hệ quả tất yếu, để thu hút vốn của người dân, sau khi tăng mạnh lãi suất không kỳ hạn, nhiều ngân hàng cũng nâng lãi suất kỳ hạn tuần lên sát trần 14%/năm.

Nhiều dấu hiệu gần đây cũng cho thấy, những tháng đầu năm 2011, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng về tài khoản của mình hàng chục nghìn tỷ đồng. Xu hướng này sẽ tiếp tục khi có những dấu hiệu lạm phát và nguy cơ bất ổn vĩ mô, buộc Ngân hàng Nhà nước phải mạnh tay siết chặt tiền tệ.

Ngân hàng Nhà nước siết chặt nguồn tiền thông qua công cụ lãi suất, các ngân hàng "đại gia" tăng lãi suất cho vay trên thị trường liên
ngân hàng và các ngân hàng nhỏ buộc phải đua lãi suất... một tình huống điển hình về những khó khăn thanh khoản của các ngân hàng đang hiện hữu.

Thực tế này có thể kéo dài khi các ngân hàng, dù nói là chắt chặt, nhưng việc thu hồi vốn không hề đơn giản. Trong khi đó, nguồn huy động vào từ dân cư và DN ngày một khó hơn. Vì thế, tăng mạnh nhất sẽ là lãi suất ngắn hạn và không kỳ hạn - biểu hiện của những khó khăn trước mắt mà ngân hàng chưa có cách nào để vượt qua.

Họ đang phải sử dụng cách làm nhiều năm nay là chấp nhận "ăn đong" với giá đắt để khỏa lấp nỗi lo thanh khoản qua ngày. Tuy nhiên, trông chờ vào vốn ngắn hạn cũng luôn đặt các ngân hàng vào sự đe dọa bất ổn nguồn vốn. Đó như một vòng tròn rủi ro bế tắc đối với các ngân hàng.

Lơ lửng nỗi lo tăng dự trữ bắt buộc

Hồi đầu năm, khi thực hiện các biện pháp siết chặt tiền tệ, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước khẳng định rằng chưa nghĩ đến việc tăng dự trữ bắt buộc vì lo ngại những nguy cơ dẫn đến khó khăn thanh khoản cho các ngân hàng như hồi 2008.

Ai cũng nhớ, năm 2008, khi Ngân hàng Nhà nước rút mạnh tiền về và tăng dự trữ bắt buộc đã đẩy hệ thống vào một cuộc khủng hoảng thanh khoản.

 
Tuy nhiên, sau đó, chính lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước lại cho rằng, tăng dự trữ bắt buộc là điều có thể sẽ phải sử dụng đến khi các biện pháp hiện nay không đạt hiệu quả mong muốn. Ngay lập tức, điều này đã gây ra những rung động trong các ngân hàng và buộc họ phải chuẩn bị sẵn để đối phó tình huống khó khăn. Đây cũng chính là một lý do giải thích cho việc tăng lãi suất mạnh gần đây.

Đại diện GP Bank cho biết, Ngân hàng Nhà nước đang bỏ ngỏ việc sẽ nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thêm 1% nên các
ngân hàng rất lo lắng. Do vậy, ngân hàng nào cũng trong tư thế phòng thủ, tìm mọi cách để thu hút lượng tiền gửi.

Mặc dù trước thông tin này, nhiều chuyên gia đã cảnh báo, cần thận trọng khi tăng dự trữ bắt buộc bởi những lý do về thanh khoản cũng như nỗi lo đẩy
ngân hàng vào vòng xoáy tăng lãi suất cho vay và lạm phát.

Tuy nhiên, thực tế sau 3 tháng đầu năm 2011, tăng trưởng tín dụng vẫn còn cao, lạm phát chưa có dấu hiệu giảm, các biện pháp đồng bộ khác chống lạm phát chưa có tác dụng thì mạnh tay với chính sách tiền tệ có thể là cách lựa chọn tốt nhất cho điều hành kinh tế nhằm đặt mục tiêu chống lạm phát.

Tuy nhiên, trong chiều ngược lại, nhiều chuyên gia lại ủng hộ việc tăng dự trữ bắt buộc.

Đây là công cụ chính sách tiền tệ có tác dụng mạnh và tức thì, thường được các
ngân hàng trung ương sử dụng để giảm cung tiền và kiềm chế lạm phát.

Nếu tăng dự trữ bắt buộc thì một lượng tiền lớn sẽ đổ vào Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng mất lượng vốn khả dụng, tăng chi phí vốn và việc thắt chặt tín dụng trở nên hiệu quả nhất. Còn khó khăn thanh khoản, đó chỉ là chuyện của một số
ngân hàng yếu kém buộc phải chấp nhận như sự sàng lọc trong khó khăn.

Hơn nữa, nguồn tiền dự trữ không phải mất đi mà sẽ chuyển từ
ngân hàng thương mại về Ngân hàng Nhà nước. Cơ quan này sẽ chủ động hơn trong chính sách tiền tệ và cấp cứu cho hệ thống ngân hàng khi có nhưng khó khăn ở những tổ chức nhỏ. Tất nhiên, chi phí vốn sẽ tăng lên, lãi suất cho vay tăng, DN sẽ khó khăn, nhưng dường như đó không còn là chuyện đáng nói nhiều vì mục tiêu chống lạm phát là hàng đầu. Ngoài ra, với lãi suất hiện nay chính các DN đã không còn mặn mà vay vốn và có phương án phòng thủ.

Nâng dự trữ bắt buộc xem ra ngày càng có thêm nhiều lý do thuyết phục. Đó là một nỗi lo lớn treo lơ lửng trên đầu các ngân hàng hiện nay.
----------------
Tác giả: LÊ KHẮC
Nguồn: VEF

Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2011

"Phanh" gấp cuộc đua lãi suất không kỳ hạn

Theo các chuyên gia tài chính - ngân hàng, nếu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) không có giải pháp quyết liệt, rất có thể mức lãi suất này sẽ được đẩy lên kịch trần 14%, tạo ra rủi ro cho toàn hệ thống.

Lãi suất tiết kiệm không kỳ hạn bằng VND của SeABank lên đến 12%/năm. Gói sản phẩm VP Super của VPBank dành cho các khách hàng có nguồn tiền VND luân chuyển qua tài khoản thanh toán với lãi suất lên đến 9%/năm. Theo các chuyên gia tài chính - ngân hàng, nếu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) không có giải pháp quyết liệt, rất có thể mức lãi suất này sẽ được đẩy lên kịch trần 14%, tạo ra rủi ro cho toàn hệ thống.

Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính - ngân hàng, thực tế hai sản phẩm của VPBank và SeABank đều là hình thức gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Tiền gửi không kỳ hạn ở nước ngoài thường không có lãi suất hoặc mức lãi suất rất thấp, bởi ngân hàng sử dụng số tiền đó mang đi cho vay ngắn hạn hoặc những khoản vay mà đồng vốn quay vòng nhanh.

"Lãi suất không kỳ hạn hiện ở Việt Nam được đẩy lên cao, thậm chí thời gian tới có thể còn ngang bằng các mức lãi suất có kỳ hạn là không thể chấp nhận được", ông Hiếu nói.

Không phải các ngân hàng không hiểu điều này, song trong cuộc cạnh tranh huy động vốn hiện nay, khi
NHNN khống chế trần lãi suất huy động tối đa là 14%/năm, đồng thời hầu hết ngân hàng lớn đều đã đẩy lãi suất các kỳ hạn tuần lên kịch trần, tất yếu các ngân hàng nhỏ sẽ phải lách bằng mọi giá để huy động vốn. Điều đó cho thấy, rõ ràng, trước các động thái thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát của NHNN, một số ngân hàng nhỏ đã có dấu hiệu khó khăn trong huy động.

Theo nhận định của TS. Trần Du Lịch, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, lãi suất không kỳ hạn được đẩy lên cao và có nguy cơ kịch trần là một vấn đề không bình thường. Điều này thể hiện sự căng thẳng thanh khoản trong ngân hàng, nhất là các đơn vị có quy mô nhỏ.

"
NHNN cần quan tâm và xem xét kỹ từng ngân hàng để có sự hỗ trợ cũng như chấn chỉnh kịp thời, tránh gây rủi ro cho toàn hệ thống", ông Lịch khuyến cáo.

Đồng quan điểm như vậy, TS. Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nói thêm, lãi suất không kỳ hạn đẩy lên cao như hiện nay thể hiện cuộc đua không lành mạnh giữa các ngân hàng. Nhưng quan trọng hơn cả, đằng sau cuộc đua này là tình trạng rủi ro liên quan đến thanh khoản.

Do vậy,
NHNN cần xem xét 3 vấn đề chính: Thứ nhất, phá vỡ nguyên tắc nền tảng của việc huy động tiền gửi không kỳ hạn là lãi suất rất thấp, làm cho việc giám sát trở nên khó khăn hơn. Thứ hai, trong ngắn hạn, nếu xử lý không tốt sẽ làm thanh khoản của hệ thống vốn đang căng thẳng sẽ rủi ro cao hơn; Thứ ba, về dài hạn, phải cải tổ hệ thống NHNN, đặc biệt là những NHNN nhỏ.

Rõ ràng, khi lãi suất không kỳ hạn được đẩy lên cao, tương đương với mức lãi suất kỳ hạn 3 tháng hay 6 tháng, đương nhiên người dân không dại gì gửi tiền ở các kỳ hạn dài nhằm chủ động nguồn vốn.

Thế nhưng, trái ngược với sự "chủ động" của người gửi tiền, thực trạng này đang đẩy các ngân hàng vào tình thế khó khăn, nguồn vốn thiếu ổn định và thường xuyên phải đối mặt với rủi ro thanh khoản. Đó là chưa kể, lãi suất không kỳ hạn bị đẩy lên cao có nghĩa chi phí vốn tăng lên, dẫn đến lãi suất cho vay cũng sẽ bị đẩy lên, đầu ra tín dụng vì thế ngày càng thu hẹp. Hệ quả là, có thể nhiều ngân hàng sẽ đứng trước nguy cơ thua lỗ do ôm quá nhiều vốn giá cao.

Cũng có ý kiến cho rằng, để chấm dứt tình trạng này,
NHNN nên đặt thêm một "trần lãi suất không kỳ hạn". Thế nhưng, liệu việc làm này có khiến cho thị trường tiền tệ đi vào ổn định, hay các ngân hàng lại nghĩ ra "chiêu lách luật" khác.

Rõ ràng, bản chất của những bất ổn gần đây trên thị trường tiền tệ là việc các ngân hàng buộc phải dùng mọi cách để chạy đua huy động vốn với các ngân hàng lớn. Để giải quyết tình trạng này,
NHNN cần có giải pháp cung ứng vốn hợp lý cho các ngân hàng, ưu tiên các ngân hàng nhỏ đang có dấu hiệu căng thẳng thanh khoản.

Trong khi đó, một lãnh đạo của Uỷ ban Giám sát Tài chính quốc gia thẳng thắn cho rằng,
NHNN cần phải điều chỉnh rất nhiều quy định hiện nay. Đặc biệt, cần có sự cải tổ về chính sách dựa trên nguyên tắc vừa thực tiễn, vừa thị trường. Nếu áp đặt thị trường bằng những mệnh lệnh hành chính một cách duy ý chí sẽ tạo ra những méo mó trong hệ thống tài chính - ngân hàng.

(vef)

Mức phạt vi phạm trong lĩnh vực ngân hàng tối đa lên tới 500tr đồng

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đang dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 202/2004/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Theo đó, NHNN dự kiến nâng mức xử phạt tối đa bằng tiền trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng từ 70 triệu đồng lên 500 triệu đồng.

Cụ thể, vi phạm về giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hoạt động nghiệp vụ (gọi chung là giấy phép) có thể bị phạt tiền từ đến 500 triệu đồng trong khi mức cao nhất theo quy định trước là 70 triệu. Mức phạt cao nhất vi phạm về quản trị điều hành đến 120 triệu đồng, cao hơn 6 lần so với trước kia. Đối với trường hợp vi phạm về tỷ lệ sở hữu và mua lại cổ phần có thể phải chịu mức phát cao nhất lên tới 200 triệu và bị buộc bán lại số cổ phần vượt quá quý định.

Phạt tiền từ 30- 90 triệu đồng đối với hành vi không thực hiện đúng quy định về nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật. Phạt tiền từ 100- 200 triệu đồng đối với hành vi phát hành giấy tờ có giá bằng đồng Việt Nam, bằng ngoại tệ hoặc bằng vàng để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài không đúng quy định của pháp luật.



Ngoài ra, các vi phạm khác về cấp tín dụng, cho vay, cho thuê tài chính hợp vốn; ủy thác cho vay, cho thuê tài chính; nhận ủy thác cho vay; cho thuê tài chính... tùy trường hợp và mức độ mà có thể bị phạt ở mức cao nhất 500 triệu đồng. Dự thảo cũng bổ sung mức phạt với hành vi không niêm yết công khai lãi suất huy động vốn và mức phí cung ứng dịch vụ theo quy định tại Khoản 1 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng, sẽ bị phạt từ 1- 3 triệu.

Lý giải cho việc tăng mức phạt lên cao, NHNN cho biết, trong những năm gần đây, số lượng sản phẩm kinh doanh và dịch vụ ngân hàng mới tăng lên nhanh chóng về quy mô và đa dạng về loại hình. Các văn bản pháp quy đã ban hành tỏ ra lạc hậu và thiếu nhiều chế tài xử lý vi phạm. Mặt khác, Nghị định số 202 hiện không còn phù hợp với nhiều quy định mới trong Luật NHNN và Luật các TCTD đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp tháng 6/2010, có hiệu lực từ ngày 1/1/2011. Ngân hàng Nhà nước cũng cho biết thêm, năm 2008, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua và Chủ tịch nước công bố Pháp lệnh số 04/2008/UBTVQH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử phạt VPHC năm 2002, trong đó đã nâng mức xử phạt tối đa bằng tiền trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng từ 70 triệu đồng lên 500 triệu đồng.

Trong dự thảo, NHNN cũng quy định rõ thẩm quyền xử phạt. Cụ thể: Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng NHNN có thẩm quyền phạt tiền đến 500 triệu đồng. Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền phạt tiền đến 30 triệu đồng. Thanh tra viên ngân hàng đang thi hành công vụ có quyền phạt đến 500.000 đồng.
(Theo Diễn đàn doanh nghiệp)

Nhà băng đau đầu vì chi phí ngầm trong huy động vốn

Huy động với lãi suất thực tế là 17 % một năm hoặc hơn nhưng chỉ ghi trên sổ sách 14%, nhiều nhà băng loay hoay với việc giám sát nhân viên khi chi phí ngầm trong huy động vốn khó kiểm soát.

Hiện tại, lãi suất thực tế trên thị trường liên ngân hàng lúc cao điểm đã ở mức trên 20% một năm. Đối với lãi suất tiết kiệm, một số nhà băng đã đưa lên 17% dưới nhiều hình thức khác nhau. Riêng với những khách hàng gửi tiết kiệm siêu VIP hoặc doanh nghiệp có tiền gửi lớn thì lãi suất có thể cao hơn. Tuy nhiên, tất cả lãi suất được ghi trên sổ sách đều là 14% một năm.

Tổng giám đốc một nhà băng cổ phần cỡ vừa ở Hà Nội cho biết, chi phí huy động vốn tăng khi chính sách tiền tệ thắt chặt là bình thường. Tuy nhiên, điều khiến ông này thấy khó nhất là việc quản lý các chi phí ngầm phát sinh từ việc huy động vốn "vượt rào". “Hạch toán trên sổ sách là 14% một năm nhưng lãi suất thực là 17% hoặc hơn thì phải ẩn các khoản ‘vênh’ bằng nhiều cách khác nhau. Đặc biệt mệt mỏi là các khoản chi không có chứng từ phát sinh”, ông này nói.

Nguồn tin từ một nhà băng lớn cho biết, tổ chức này đã phải sa thải một số nhân viên liên quan đến việc huy động vốn từ khách hàng tổ chức. Một lãnh đạo của nhà băng than thở: “Bây giờ, việc ‘đi đêm’ với khách hàng để giữ vốn hoặc kéo từ nhà băng khác về là phổ biến. Nếu mình không làm thì sẽ bị mất vốn, còn làm thì công lao xây dựng các quy chuẩn về đạo đức nhiều năm ‘đổ xuống sông xuống biển’ hết”.

Theo tìm hiểu của pv, việc ‘đi đêm’ giữa nhân viên nhà băng và khách hàng (đặc biệt là tổ chức) khi huy động vốn vượt mức 14% một năm, tạo ra các khoản chi phí ngầm. Trên sổ sách của ngân hàng, tất cả mức lãi suất trả cho người gửi đều là 14% một năm, còn phần chênh lệch có thể “tùy biến” vào những chi phí khác.

Với các khách hàng cá nhân, phần chênh lệch được hạch toán ngay trên sổ sách bằng việc khai tăng phần tiền gửi vào số với số thực nộp. Riêng với các khách hàng tổ chức, tùy từng trường hợp mà số chênh lệch này sẽ được “hạch toán” theo cách phù hợp.

“Ghi trên sổ là 14%, khách hàng yêu cầu trả 15,5% -16% nhưng 1,5% -2% là đưa bên ngoài. Không làm thì mất khách, mà làm thì khoản ‘đưa ngoài’ này rất khó quản lý và dễ bị lợi dụng. Đây là chưa nói đến việc khoản chênh lệch này có giá trị lớn, tạo ra những cám dỗ làm hỏng đạo đức nhân viên của ngân hàng. Hiện chúng tôi cũng không biết phải quản lý việc 'đưa ngoài' này thế nào cho phải”, tổng giám đốc một ngân hàng ở Hà Nội than thở.

Phó chủ tịch thường trực hội đồng quản trị một ngân hàng lớn nhận xét, việc phải trả những khoản chi phí ngầm trong huy động vốn đang diễn ra tràn lan khắp các nhà băng sẽ để lại hậu quả lâu dài đối với đạo đức của ngành tài chính. Điều mà chưa ai tính toán được mức độ thiệt hại.

Tổng giám đốc một nhà băng cổ phần lớn cho biết, do kiên quyết không áp dụng các chính sách "trả ngoài" cho khách hàng, đơn vị này đã bị mất hơn 3.000 tỷ đồng tiền gửi doanh nghiệp và khoảng 1.000 tỷ đồng tiết kiệm cá nhân. “Ngân hàng nào cũng làm và mặt bằng lãi suất thực tế trên thị trường cao hơn 14% nên chúng tôi đang đứng trước một quyết định rất khó khăn: Có nên làm như họ hay không?”, ông này tâm sự.

Trong khi đó, nguồn tin từ một ngân hàng quốc doanh cho biết, hội sở chính chỉ đạo các chi nhánh, phòng giao dịch không được làm trái quy định của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất. Thế nhưng, khi làm đúng luật, vốn từ nhà băng này bị chảy đi khá nhiều.

“Chi nhánh họ phải chịu áp lực của chỉ tiêu huy động, cho vay, cũng như lợi nhuận. Làm đúng quy định trong khi các nơi khác đều ‘xé rào’ thì nguồn vốn của họ bị sụt giảm, nếu không có phản ứng phù hợp thì chi nhánh sẽ rất nguy. Vì thế họ đành phải ‘vận dụng’ thôi”, lãnh đạo ngân hàng này chia sẻ.

Khẳng định không “bật đèn xanh” cho việc huy động vốn với lãi suất vượt trần nhưng vị lãnh đạo ngân hàng quốc doanh cho biết, nếu phát hiện chi nhánh nào vi phạm quy định của Ngân hàng Nhà nước sẽ xử lý nghiêm. Tuy nhiên, trong khuôn khổ những điều pháp luật cho phép, chi nhánh có thể tìm ra cách riêng, tránh việc nguồn vốn huy động bị sụt giảm.

(VnExpress)

Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2011

Cuộc chơi ngân hàng và 3 cái chết

Vốn điều lệ tăng lên 3.000 tỷ đồng, khó khăn chung của nền kinh tế và giá cổ phiếu từ từ giảm đang làm nhiều ngân hàng TMCP "chết" từ từ.
Cuộc chơi ngân hàng, xem ra, nhiều đại gia đang ngậm phải quả đắng.
Khi phong trào thành lập công ty chứng khoán lắng xuống, các đại gia chuyển sang thành lập ngân hàng thương mại.

Chuyện này cũng dễ hiểu, vì hồi đó, các ngân hàng đang huy động lãi suất từ 5 đến 7%/năm, cho vay ra trên 12%/năm. Có ngân hàng, khắc có người đến mở tài khoản, có người đến gửi tiền, có người đến vay tiền. Nền kinh tế ổn định, tăng trưởng tín dụng đạt trên 30%/năm. Có huy động, có cho vay, có chênh lệch lãi suất là có thu nhập... Chẳng có gì chắc ăn bằng việc sở hữu nhà băng.

Trước hết, không chỉ vì đây là thị trường béo bở mà ở khía cạnh khác, với những đại gia tiền bạc đã rủng rỉnh, cái họ cần không kém là có một ghế, Chủ tịch hoặc Tổng giám đốc, kể cả uỷ viên hoặc phó tổng, đủ để dọa nạt thiên hạ. Ông chủ nhà băng, một khái niệm mà không chỉ ở xứ ta, cả xứ Tây nghe cũng phát thèm.

Vậy là, lại nhà nhà đua nhau làm hồ sơ, đặc biệt các tổng công ty, gửi lên Ngân hàng Nhà nước xin thành lập nhà băng. Trước tháng 6 năm 2007, điều kiện thành lập ngân hàng khá thoáng. Theo đó chỉ cần vốn điều lệ 70 tỷ đồng coi như xong. Còn sau đó, quyết định 24/2007/QĐ-NHNN quy định điều kiện thành lập ngân hàng mới, mức vốn điều lệ tối thiểu của một ngân hàng thương mại cổ phần đô thị tăng từ 70 tỷ đồng lên 1.000 tỷ đồng.

Khi thị trường chứng khoán bùng phát, chuyện huy động ngàn tỷ không khó. Các thủ tục, chỉ cần chịu chi, sẽ có tư vấn lo từ A đến Z. Ban vận động chỉ việc họp, thông qua điều lệ, phân định ghế, tìm kiếm văn phòng trụ sở, kiếm nhân sự chủ chốt, coi như xong.
Chính vì sự thông thoáng đó, mà trước đây, Việt Nam chỉ có 4 ngân hàng thương mại đều là của nhà nước, thế mà chỉ trong vòng mấy năm khi Bill Clinton, cựu Tổng thống Hoa Kỳ, bỏ lệnh cấm vận, con số này đã tăng lên gấp nhiều lần. Trước khi gia nhập WTO thì số ngân hàng thương mại ở Việt Nam đã gần 30. Chưa dừng, các hồ sơ xin thành lập mới lại liên tục gửi lên, gửi lên.

Bạn tôi làm ở Ngân hàng Nhà nước cho hay, tính đến hết tháng 8/2007, đã có 25 bộ hồ sơ được gửi lên Ngân hàng Nhà nước xin cấp phép thành lập ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) mới. Nhiều người nộp hồ sơ, nhiều người chờ đợi, ắt sẽ bị nghẽn. Nghẽn vì chen nhau, nghẽn vì cơ quan quản lý Nhà nước chẳng dại gì lại không khép bớt cửa lại. Ai muốn qua, phải "biết điều".

Song, chuyện được cấp giấy phép hay không lại do Ngân hàng Nhà nước.
Từ đầu năm 2006 kéo qua 2007, thị trường tài chính tăng đẹp, giá cổ phiếu của các ngân hàng thương mại tăng gấp nhiều lần mệnh giá. Một ngân hàng thương mại mới ra đời, ngoài cổ đông sáng lập không được phép chuyện nhượng, còn các cổ đông phổ thông, cứ mua bán qua giấy viết tay, cũng được dăm sáu chấm. Nghĩa là có thể dùng tay không bắt giặc, cũng kiếm bộn tiền.

Một số ngân hàng đã có giấy phép, chỉ cần tăng vốn điều lệ, gọi cổ đông mới tham gia, bán ưu tiên cũng kiếm lãi gấp ba gấp bốn. Việt Nam, từ chỗ có dăm bảy vị tư bản "cỏ", vốn liếng ít ỏi, bỗng dưng xuất hiện hàng trăm triệu phú đô la Mỹ, nhiều như nấm mọc sau mưa.

Nhiều triệu phú, thậm chí là tỷ phú đô la Mỹ, lực lượng này bắt đầu can thiệp vào việc ra chính sách. Họ tham vấn cho Chính phủ chính sách thanh toán không dùng tiền mặt. Đầu năm 2008, chính sách này được phê duyệt, tiền lương được chuyển vào tài khoản, muốn tiêu dùng thẻ để rút. Văn minh không kém gì Hoa Kỳ. Hơn thế là cơ hội lớn cho các ngân hàng thương mại. Huy động vốn qua dịch vụ thẻ tăng vọt.

Trở lại chuyện đã nói ở phần trước, bạn tôi từ Ba Lan trở về, có vài chục triệu đô, lại kiếm được bằng tiến sĩ kinh tế, muốn khoe khoang. Không có sự lựa chọn nào tốt hơn là thành lập ngân hàng thương mại.

Thời điểm 2007, phải có số tiền tối thiểu 1.000 tỷ đồng. Tiền tươi, thóc thật, được duy trì số dư tiền gửi tại một ngân hàng trong suốt thời gian từ khi chấp thuận về nguyên tắc cho đến khi khai trương hoạt động. Bao nhiêu vốn liếng từ Đông Âu, dồn về Việt Nam, ra chợ đen đổi đô ra Việt Nam đồng để làm chuyện ấy. Nhiều tháng trời, khoản tiền đó bị giam chết một chỗ, không sinh lợi.

Cũng như với các công ty chứng khoán, với các ngân hàng thương mại, tìm kiếm nguồn nhân lực cũng là chuyện đau đầu. Sinh viên tốt nghiệp ra trường nhiều như quân nguyên, dưng không thạo việc. Để vận hành một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, cần có đội ngũ am hiểu thực tiễn, thành thạo chuyên môn. Chưa nói chuyện bộ khung quản lý, cán bộ chủ chốt.

Khi số lượng các NHTM đột ngột tăng cao, người làm được việc đắt hàng. Các ngân hàng thương mại vẫn áp dụng chiêu cũ: Lôi kéo cán bộ của nhau với những lời hứa về chức sắc, thu nhập, tiền thưởng, điều kiện làm việc và lớn hơn là cổ phiếu. Trong số đó, các ngân hàng thương mại Nhà nước được coi là những cái kho về nhân sự.

Một người bạn đang giữ ghế trưởng ban ở Agribank bỗng dưng được mời gọi về làm Phó tổng một ngân hàng cổ phần, lương tính bằng đô-la Mỹ, cao ngất ngưởng.
Rồi nữa, bài toán mở rộng mạng lưới, chi nhánh. Muốn giữ khách, muốn hút tiền nhàn rỗi của dân, không cách nào khác phải gần dân. Các chi nhánh cứ thế tăng liên tục như tàu con thoi. Những khu dân cư đông đúc, những khu đô thị mới, ai có nhà mặt tiền hoặc tầng một đều có cơ hội hốt bạc.

Đoạn đường Kim Liên - Ô chợ Dừa mới mở dài chưa đầy cây, chỉ trong có vài tháng đã có 8 chi nhánh và phòng giao dịch ngân hàng. Tầng một của hai toà nhà 18 T1 và 18 T2, sát nhau tại khu đô thị Trung Hoà - Nhân Chính, cũng có mặt tới 5 ngân hàng thương mại.

Không chỉ là chi phí, mà các ngân hàng còn phải tranh địa điểm với nhau. Có ngân hàng vừa thoả thuận với chủ nhà xong, chưa kịp nhận tiền đặt cọc thì đã có ngân hàng khác đến thuê với giá cao hơn. Thậm chí, đã nhận đặt cọc rồi, chủ nhà còn trả lại tiền, chịu phạt để được ký với đối tác khác giá cao hơn.

Ngoài ra là hàng loạt thách thức khác, như: công nghệ, quản trị điều hành, đặc biệt là quản trị rủi ro, đa dạng hoá nghiệp vụ kinh doanh, chất lượng và uy tín của dịch vụ, thu hút khách hàng... Chỉ riêng việc xây dựng hệ thống core-banking (ngân hàng lõi) cho một ngân hàng thương mại đã tốn khoảng 4 triệu USD.

Chuyện giành giật về nhân sự, cạnh tranh về phát triển mạng lưới, thuê địa điểm đẹp, tưởng đã là những rào cản khó vượt qua. Chưa hết, tháng 10 năm 2008, Ngân hàng Nhà nước chắp bút cho Chính phủ ra quyết định mới về điều kiện thành lập ngân hàng thương mại.

Theo đó, vốn điều lệ của một ngân hàng TMCP mới sẽ không dưới 3.000 tỷ đồng, cao gấp 3 lần quy định cũ. Ngoài ra, mỗi ngân hàng phải có ít nhất 100 cổ đông, trong đó mỗi DN là cổ đông sáng lập phải có ít nhất 500 tỷ đồng vốn chủ sở hữu và phải đảm bảo làm ăn có lãi trong vòng 3 năm liên tiếp trước khi xin thành lập ngân hàng.

Trước rào cản lớn như vậy, hầu hết các Ban chuẩn bị thành lập ngân hàng đều bỏ cuộc. Một cán bộ Ngân hàng Nhà nước cho biết, tính đến tháng 8/2008, cơ quan này đã nhận được tổng cộng 37 bộ hồ sơ xin thành lập mới ngân hàng TMCP. Trong số các hồ sơ trên, chỉ có Liên Việt và Tiên Phong được chấp nhận thành lập và đã đi vào hoạt động.
Ít lâu sau, Bảo Việt Bank cũng được Thủ tướng chấp thuận. Số còn lại đang nằm ở Ngân hàng Nhà nước chờ cấp phép bỗng dưng trở thành mớ giấy lộn. Không ít người dở khóc dở cười chỉ vì đã trót bỏ ra hàng trăm tỷ đồng cho công tác chuẩn bị.

Đây được coi là cách chết thứ nhất.


Cũng như các công ty chứng khoán, các ngân hàng thương mại cũng sống trong cảnh đìu hiu của thị trường tài chính. Khủng hoảng tài chính toàn cầu chưa kịp phục hồi lại bị bồi thêm chuyện động đất ở Nhật, rồi chuyện nổ nhà máy điện hạt nhân, nghe mà hãi.
Trước những tin giữ đó, đầu tư khu vực tư nhân giảm vẫn chưa khá lên, tiêu dùng nội địa và quốc tế phục hồi chậm. Nhà nước thắt chặt tín dụng, thắt chặt giao dịch vàng, ngoại hối. Cạnh tranh hàng nhập khẩu tăng mạnh, niềm tin của nhà đầu tư yếu...

Điều này đang báo hiệu một cách chết thứ ba
: chết từ từ. Giá cổ phiếu của các ngân hàng thương mại giảm có lý do từ bệnh tật này. Theo Vietnam Credit 2009, công ty chuyên về xếp hạng tín nhiệm, có hơn chục ngân hàng thương mại phải xếp hạng CCC, nghĩa là, doanh nghiệp có mức độ rủi ro cao, nếu điều kiện bất lợi thì ít khả năng thực hiện được các cam kết tài chính của mình.
Theo Phan Thế HảiVEF

Có 26 ngân hàng Mỹ bị đóng cửa từ đầu năm tới nay

Tổng số ngân hàng tại Mỹ bị đóng cửa từ đầu năm đến nay đã tăng lên con số 26 sau khi có thêm ba ngân hàng nhỏ bị đóng cửa trong tháng này, khiến Cơ quan Bảo hiểm Tiền gửi liên bang (FDIC) thiệt hại thêm 112 triệu USD.
Ngân hàng Bank of Commerce of Wood Dale tại bang Illinois bị đóng cửa vào cuối tuần trước.

Theo tính toán sơ bộ, với số tài sản trị giá 163 triệu USD và tổng số dư tiền gửi là 161 triệu USD tính tới ngày 31/12/2010, sự sụp đổ của ngân hàng này khiến FDIC bị thiệt hại khoảng 42 triệu USD.

Trong khi đó, hai ngân hàng Legacy Bank tại bang Wisconsin và First National Bank of Davis tại bang Oklahoma cũng nhận lệnh đóng cửa vào cuối giờ giao dịch ngày 11/3 theo yêu cầu của FDIC.

Ngân hàng Legacy Bank có tài sản trị giá 190 triệu USD và tiền gửi hơn 183 triệu USD, còn ngân hàng First National Bank of Davis có số tài sản hơn 90 triệu USD và tiền gửi gần 70 triệu USD. Tiền bảo hiểm phải trả cho 2 ngân hàng bị đóng cửa này lên tới 70 triệu USD.

Trong năm 2010, đã có tổng cộng 157 ngân hàng Mỹ bị đóng cửa, nhiều nhất kể từ cuộc khủng hoảng tín dụng và tiền gửi tiết kiệm hồi năm 1992 tới nay. Tổng giá trị tài sản của 157 ngân hàng nói trên vào khoảng 92 tỷ USD.

Phần lớn các ngân hàng phá sản trong năm 2010 là những ngân hàng nhỏ, nên tổng chi phí bảo hiểm tiền gửi cũng chỉ ở mức 21 tỷ USD, thấp hơn nhiều so với khoản phí bảo hiểm 36 tỷ USD mà chính quyền liên bang phải trả cho sự sụp đổ của 140 ngân hàng trong năm 2009.

Năm 2008, khi cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra tại Mỹ, mới chỉ có 25 ngân hàng bị đóng cửa. Trong đó, ngân hàng Washington Mutual, có trụ sở tại thành phố Seattle thuộc bang Washington, bị đóng cửa khi đang nắm số tài sản trị giá 307 tỷ USD và tiền gửi lên tới 188 tỷ USD là thất bại nặng nề nhất của ngành ngân hàng Mỹ từ trước tới nay.

Mặc dù đưa 884 ngân hàng của Mỹ vào danh sách các định chế tài chính "có vấn đề" trong quý 4/2010, con số cao nhất trong 18 năm qua, FDIC vẫn không cho rằng 2011 là năm có số ngân hàng bị đóng cửa nhiều nhất, mà là năm 2010.

FDIC ước tính từ năm 2010 tới hết năm 2014, tổng số tiền bảo hiểm tiền gửi mà họ phải trả cho các ngân hàng "sập tiệm" sẽ là 52 tỷ USD.

Nguồn: http://vnexim.com.vn/

Một ngân hàng ngoại được tăng vốn thêm 75 triệu USD

NHNN vừa chấp thuận việc thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mega International Commercial Bank Co., Ltd chi nhánh Tp.HCM.
Ngày 30/3/2011, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có công văn số 2509/NHNN-TTGSNH về việc thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mega International Commercial Bank Co., Ltd chi nhánh TP.HCM từ 15 triệu USD lên 90 triệu USD.

Ngân hàng Mega International Commercial Bank Co., Ltd chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thực hiện việc tăng vốn được cấp; đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền; công bố nội dung thay đổi theo quy định tại Điều 29 Luật Các tổ chức tín dụng và có văn bản kèm bản sao đăng ký kinh doanh số vốn được cấp mới, đề nghị NHNN chấp thuận thay đổi mức vốn được cấp ghi trong Giấy phép số 25/NH-GP ngày 03/5/1996 do Thống đốc NHNN cấp cho Ngân hàng Mega International Commercial Bank Co., Ltd chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh.
(NDHmoney)

NHNN thông báo một số mức lãi suất áp dụng từ ngày 01/4/2011

Ngày 31/3/2011, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Quyết định số 692/QĐ-NHNN về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng.

Theo Quyết định này, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và lãi suất cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng là 13,0%/năm. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4/2011.

Đồng thời, quy định lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và lãi suất cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng tại Quyết định số 379/QĐ-NHNN ngày 8/3/2011 hết hiệu lực thi hành.

Ngân hàng nhà nước việt nam