Thứ Hai, 30 tháng 5, 2011

[Thảo luận] Các loại rủi ro của ngành ngân hàng

1. Hoạt động ngân hàng là chấp nhận và quản lý rủi ro

Hoạt động ngân hàng thực chất là chấp nhận rủi ro và quản lý rủi ro. Khác với các doanh nghiệp thông thường, các ngân hàng có tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (hệ số đòn bẩy) rất cao và các tài khoản ngoại bảng của ngân hàng (những chuyển động vốn trên thực tế chưa phát sinh nên chưa ghi vào bảng tổng kết tài sản, nhưng rất có thể sẽ phải phát sinh, ví dụ bảo lãnh; mở L/C; giao dịch ngoại hối có kỳ hạn: hứa mua, hứa bán ngoại tệ; đối với các ngân hàng nước ngoài còn là những khoản hạn mức tín dụng được phê duyệt nhưng chưa giải ngân…) thường rất cao và cũng là nơi ẩn chứa nhiều rủi ro.

Để nhận ra tính đặc biệt của ngân hàng, ta hãy lấy 1 ví dụ so sánh ngân hàng Kookmin của Hàn Quốc với Cty Samsung Electronics cũng của nước này.

Tại thời điểm 2005, Samsung Electronics có tổng tài sản có 32,8 tỷ USD thì vốn chủ sở hữu của họ đã là 14,5 tỷ, trong khi tổng cộng tài sản có của Kookmin Bank là 154 tỷ USD mà vốn sở hữu của ngân hàng này chỉ là 5,5 tỷ thôi. Các khoản phải thu của Samsung là 9 tỷ USD, nếu 5% các khoản phải thu của họ trở thành nợ khó đòi thì tập đoàn này coi như mất đi 1% vốn sở hữu. Ở Kookmin, các khoản cho vay lên đến 77 tỷ USD, nếu 5% các khoản này thành nợ khó đòi, coi như 108% vốn chủ sở hữu đã bị xoá sổ.

Các tài khoản ngoại bảng của Samsung chỉ chiếm 2 tỷ USD, nếu 5% các tài khoản này thành nợ xấu thì Samsung mất 1% vốn trong khi đó nếu 5% các tài khoản ngoại bảng (chiếm tới 82,7 tỷ USD) của Kookmin thành nợ xấu thì ngân hàng này mất 75% vốn.

Ông Alan Greenspan, nhà lãnh đạo lâu năm (trải nhiều đời tổng thống) của Quỹ Dự trữ Liên bang (FED)- 1 cơ quan của Hoa Kỳ từa tựa như là các ngân hàng trung ương- đã nói 1 câu rất chí lý: “Nếu chúng ta tối thiểu hóa việc chấp nhận rủi ro để giảm xác suất thất bại xuống đến bằng 0 thì theo định nghĩa, chúng ta đã loại bỏ chính mục đích của hệ thống ngân hàng”.

2.Các loại rủi ro ngân hàng.

Các tài liệu khác nhau có thể trình bày nhiều loại rủi ro khác nhau, và đặt những tên gọi khác nhau. Nhưng về bản chất, ta có thể chia ra 4 nhóm rủi ro chính

a.Rủi ro thị trường: ví dụ rủi ro về lãi suất, ngoại hối, chứng khoán.

Ta cần lưu ý đây là rủi ro thị trường trong những lĩnh vực ngân hàng tham gia kinh doanh và phân biệt nó với 1 loại rủi ro thị trường khác: rủi ro thị trường trong những lĩnh vực khách hàng của ngân hàng tham gia kinh doanh dẫn đến khách hàng không trả được nợ (ví dụ giá BĐS sụt giảm khiến Minh Phụng không trả được nợ ngân hàng). Loại rủi ro thị trường thứ 2 lại nằm trong khái niệm rủi ro tín dụng.

b.Rủi ro tín dụng: là rủi ro khi người vay vốn vỡ nợ hay các sự cố tín dụng, kết quả của nó là khoản nợ khó đòi (nợ xấu).

c.Rủi ro thanh khoản: là rủi ro khi ngân hàng không đáp ứng được cam kết khi đến hạn do thiếu tiền, một trong những lý do thiếu tiền thường gặp là người gửi tiền rút tiền ồ ạt (vụ ACB).

d.Rủi ro vận hành: là rủi ro do các lý do công nghệ (hacker đánh sập hệ thống tin học), nhân viên (lừa đảo, cố tình làm trái, phạm sai sót do mệt mỏi: nhiều ngân hàng nước ngoài có những quy định bắt buộc nhân viên phải nghỉ phép đủ số ngày quy định để đảm bảo sự minh mẫn trong xử lý công việc đồng thời nhân viên làm việc thay nhân viên nghỉ phép có thể phát hiện ra những sai sót của nhân viên nghỉ phép), tài sản vốn, các lý do bên ngoài (chiến tranh, thị trường sụp đổ…)

Đối với các ngân hàng châu Á, rủi ro tín dụng chiếm từ 60-70% tổng nguồn vốn chịu rủi ro.

Khi Greenspan nói ngân hàng cần quản lý rủi ro chứ không cần giảm thiểu rủi ro đến 0, ông chỉ muốn đề cập đến rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng là những loại rủi ro cần chấp nhận (phi rủi ro bất lợi nhuận), còn rủi ro thanh khoản và rủi ro hoạt động cần tối thiểu hóa đến mức triệt tiêu nó.

Các chuyên gia ngân hàng nước ngoài cũng nhận xét các ngân hàng Việt Nam chưa chú trọng đúng mức đến rủi ro hoạt động và các biện pháp khống chế nó.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét